Cuộc chiến truyền thông
Lê Trần Luật
Trong
giai đoạn phát triển hiện nay, truyền thông đại chúng đã trở thành
phương tiện chính thống để giải thích các thực tại xã hội. Qua các sự
kiện, bài viết, bình luận, truyền thông đại chúng đã xác định và hình
thành các định hướng chính trị. Là phương tiện chủ yếu tuyên truyền các
hệ tư tưởng, thiết lập và củng cố lòng tin trong công chúng, hợp pháp
hóa các thể chế quyền lực, truyền thông đại chúng còn là nhân tố kiểm
soát xã hội, được giới cầm quyền sử dụng để hợp pháp hóa các chính
sách, ổn định hệ thống chính trị và kinh tế. Vì lẽ đó, nhiều người nói
rằng: truyền thông là loại quyền lực thứ tư. Đó là cách diễn đạt theo
trật tự để phân biệt với các quyền lực Nhà nước.
Thực chất, quyền lực của truyền thông
có thể chi phối, hạn chế và kiểm soát các quyền lực còn lại như quyền
lập pháp, hành pháp và tư pháp. Quyền lực của truyền thông là quyền lực
của công chúng, mà công chúng là nguồn gốc của mọi quyền lực nhà nước.
Khi phong trào đấu tranh cho nền dân
chủ ở Việt Nam còn nhỏ lẻ, chưa có đủ quy mô, tầm vóc và giải pháp thì
truyền thông đại chúng nổi lên như một lực lượng mạnh mẽ nhất. Lẽ tất
nhiên, lực lượng này không phải là truyền thông chính thống của Nhà
nước Việt Nam hiện tại.
Lực lượng này bao gồm:
- Các trang web trong nước như: Dòng Chúa cứu thế Việt Nam, Bauxite Việt Nam, Chúng ta.com, v.v…
- Các trang web của người Việt ở hải ngoại thì có: talawas, Diễn đàn X-cafe, Dân luận, viet-studies.info, Pháp nạn Bát Nhã, v.v…
- Các hãng truyền thông quốc tế nổi tiếng như: BBC, AP, AFP, VOA, RFA, RFI, Reuters, v.v…
Lực lượng này không bị chi phối hay kiểm soát từ phía Nhà nước.
Ngoài ra, còn đông đảo cây viết khác nhau trong giới blogger như: Osin (Huy Đức), Ba Sàm, Điếu Cày, Người Buôn Gió, JB Nguyễn Hữu Vinh, Mẹ Nấm, Đào Hiếu, Tạ Phong Tần, Trương Duy Nhất, Phạm Viết Đào, Tô Hải, Tuấn Khanh, Đinh Tấn Lực, Nguyễn Quang Lập (Quê choa), Trần Nhương, Bùi Văn Phú, Hồ Hải, Nguyễn Văn Tuấn, v.v… và một số lượng lớn các cây bút khác.
Vẫn biết, các hãng truyền thông quốc
tế, một số trang web và blogger nêu trên không lấy việc đấu tranh cho
nền dân chủ làm mục đích của mình, nhưng việc họ đưa tin và bình luận
các vấn đề thời sự một cách nhanh chóng, trung thực và khách quan đã
giúp cho phong trào đấu tranh dân chủ đạt được những kết quả thiết
thực. Khi nói đến “dân chủ”, không thể không nói đến tính “công khai”
và “trung thực”. Hai thuộc tính này của nền dân chủ chính là tiêu chí
căn bản của những người làm truyền thông.
Nếu như chế độ độc tài lấy sự dối trá
và bưng bít làm phương tiện tồn tại, thì ngược lại, phong trào dân chủ
lấy sự công khai và trung thực làm công cụ đấu tranh cho mình. Và do đó
có thể nói rằng: Cuộc đấu tranh cho nền dân chủ ở Việt Nam đã trở thành
“cuộc chiến” giữa lực lượng truyền thông chính thống của Nhà nước với
lực lượng truyền thông còn lại vừa nêu trên. Cuộc chiến này ngày càng
quyết liệt hơn, gay gắt hơn, nhiều thông tin và sự kiện hai bên đưa ra
hoàn toàn trái ngược nhau. Cuộc tranh giành “thị phần độc giả, thính
giả” cũng không kém phần quyết liệt. Tất nhiên, công chúng luôn yêu mến
sự trung thực và khách quan. Có thể nói hiện nay tiếng nói của truyền
thông tự do đang trở nên thắng thế trên chiến trường truyền thông. Tất
nhiên, một phần của báo chí chính thống và các “nhà báo có thẻ” khi kịp
thời đưa tin trung thực, khách quan, thì cũng đã và đang trở thành đồng
minh của giới truyền thông tự do Việt Nam.
Điểm lại vài sự kiện nổi bật đã qua để thấy sự tác động từ “cuộc chiến” này:
Khi sự kiện “Tòa khâm sứ” và “Thái Hà” nổ ra, truyền thông Nhà Nước gọi: cuộc gây rối trật tự công cộng, phần còn lại gọi: cuộc cầu nguyện trong ôn hòa. Tiếp theo, sau bài phát biểu của Đức Tổng Ngô Quang Kiệt,
truyền thông Nhà nước cắt bớt lời phát biểu của ngài và cho rằng: ngài
đã không còn tự trọng là một công dân Việt Nam, và làm cho quần chúng
“phẫn nộ”. Lập tức, phần còn lại đưa nguyên văn lời phát biểu của ngài
và khẳng định ngài là một người yêu nước. Và cho đến giờ này, ngài là
một “vị thánh” trong lòng người công giáo. Khi phiên tòa xét xử các
giáo dân Thái Hà sắp mở ra, tất cả truyền thông trong nước đều im lặng.
Trong khi đó, hàng chục bản tin của các hãng truyền thông quốc tế, hàng
trăm bài viết của giới blogger đều đưa tin. Chính nhờ những thông tin
này mà hàng nhìn giáo dân đã có mặt trước phiên tòa, với cành thiên tuế
trên tay và hô vang: vô tội, vô tội. Kết quả, nhà cầm quyền đã phải lùi
bước với một bản án đầy mâu thuẫn.
Đến vụ “bô-xit”, được gọi là “chủ
trương lớn” của Đảng mặc dù trước đó đã có hàng chục bài viết phân tích
về tính nguy hại lâu dài và toàn diện đối với quốc gia trên các báo chí
chính thống. Trang mạng bauxite Việt Nam ra đời thu hút trên 3000 chữ kư đồng thuận, với hàng trăm bài viết đã lôi cuốn được hàng triệu độc giả trên toàn quốc.
Rồi đến vụ công dân Cù Huy Hà Vũ khởi kiện Thủ tướng.
Có thể nói đây là vụ kiện hi hữu, rất hay và thú vị. Các báo đài như
BBC, RFA… các trang web, các blogger đều đồng loạt đưa tin, nhưng
truyền thông chính thống trong nước có vẻ “không thích” sự kiện này.
Mới đây, sự kiện “Bát Nhã”:
hình ảnh các tu sinh bị xua đuổi, đánh đập được đăng tải khắp nơi, làm
xúc động hàng triệu người trên thế giới. Trong khi đó, truyền thông
trong nước đưa tin và lư giải: Đó là việc tranh chấp nội bộ!
Bài góp ư “Đổi mới Đảng để tránh sụp đổ” cũng là một ví dụ cụ thể về tính công khai. Sự công khai của Thiện Ư – Tống Văn Công khiến cho bài trên báo Quân đội nhân dân chụp mũ ông là một “mưu đồ thâm hiểm” đã bị công luận nhận diện một cách nhanh chóng.
Vụ tờ báo Đảng đăng tin về Hải quân Trung Quốc tập trận
đã bị giới blogger phát hiện và nhanh chóng buộc phải xin lỗi. Cũng từ
đó mà công luận phát hiện thêm một sự thật khác: số liệu truy cập vào
website của Đảng thực tế rất thấp, những con số 25 triệu truy cập hay
40 triệu truy cập một tháng chỉ là hư cấu.
Vụ ba (03) blogger: Mẹ Nấm, Người Buôn Gió và Đoan Trang bị bắt và được thả ra cho thấy một thắng lợi cụ thể nhờ sự kết hợp tự nhiên giữa giới truyền thông tự do trong nước và quốc tế. Vụ việc khởi tố nhà văn Trần Khải Thanh Thủy cũng đang đi theo hướng này.
Sức mạnh và sự ảnh hưởng của truyền
thông chưa bao giờ quan trọng như ngày nay. Nó có thể giúp cho công
chúng tiếp cận với nhiều thông tin, nhiều giá trị của Dân chủ và Nhân
quyền, qua đó hình thành các định hướng chính trị có tính chất phổ quát
vượt qua các khuôn khổ đã định sẵn. Nó giúp cho các nhóm đấu tranh nhỏ
lẻ có sự liên kết với nhau và truyền đi một thông điệp chung về sự khát
khao một nền dân chủ thực sự.
Cuối cùng, chúng ta vẫn phải thừa nhận
một quan điểm chung rằng: cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ, cho sự thật
khách quan và trung thực vẫn là mục tiêu quan trọng hàng đầu của mọi
nhà nước trên thế giới, không loại trừ nhà nước Việt Nam hiện hữu. Vì
thế, khi báo chí và truyền thông của nhà nước thay đổi để không còn là
công cụ một chiều, thì nó sẽ góp phần rất lớn vào tiếng nói chung của
nhân dân, của công luận đích thực và cuộc chiến truyền thông sẽ khép
lại.
Sài Gòn, ngày 16 tháng 11 năm 2009
Luật sư Lê Trần Luật
© 2009 Lê Trần Luật
© 2009 talawas blog